Hình đại diện công ty vàng Kinross

Công ty vàng Kinross: công ty khai thác vàng phát triển nhanh nhất thế giới

Công ty vàng Kinross được cho là nhà khai thác vàng lớn thứ 5 thế giới. Công ty chủ yếu tham gia vào việc khai thác, chế biến vàng và bạc cũng như thăm dò và mua lại mỏ khoáng sản chứa vàng. Hiện nay, công ty vàng Kinross đang vận hành 6 mỏ vàng, phân bố rộng khắp tại Brazil, Ghana, Mauritania, Nga và Hoa Kỳ. Công ty cũng có cổ phiếu được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán New York và Sàn giao dịch chứng khoán Toronto.

Các sản phẩm vàng của Kinross thường được sản xuất dưới dạng vàng thỏi doré (vàng có lẫn tạp chất, không có độ tinh khiết cao), sau đó được chuyển đến các nhà máy luyện kim để xử lý lần cuối.

Giới thiệu công ty vàng Kinross

 

Lịch sử của công ty vàng Kinross

Công ty vàng Kinross được thành lập vào năm 1993, có trụ sở chính tại Toronto, Ontario, Canada.

Trong 5 năm, từ một công ty mới thành lập, Kinross trở thành nhà sản xuất vàng lớn thứ 5 Bắc Mỹ. Vào năm 1998, Công ty vàng Kinross hợp nhất với công ty Amax Gold. Với doanh thu đạt 318 triệu đô la vào năm 1999, công ty vàng Kinross trở thành nhà khai thác vàng phát triển nhanh nhất trên thế giới.

Công ty vàng Kinross sở hữu nhiều mỏ có trữ lượng quặng vàng lớn như: mỏ vàng lộ thiên Fort Knox ở Alaska, mỏ Hoyle Pond ở phía bắc Ontario và mỏ Kubaka ở miền đông nước Nga. Kinross cũng hoạt động khai thác vàng tại các mỏ ở Chile, Zimbabwe và ở vùng nhiều vàng giàu nhất Hoa Kỳ, Nevada. Ngoài khai thác vàng, Kinross cũng hoạt động khai thác bạc và thu về doanh thu đáng kể.

Lịch sử của công ty vàng Kinross

 

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn sáng lập (1992-1993)

Vàng bắt nguồn từ tên gọi “aurum” trong tiếng Latinh. Với tính chất bóng bẩy, dễ uốn và chống ăn mòn cao, vàng trở thành vật sở hữu được đánh giá cao kể từ những nền văn minh đầu tiên. Những trang sức tuyệt đẹp từ vàng cũng là vật phẩm yêu thích của nhiều người.

Hơn 170 năm sau khi tiêu chuẩn vàng được đưa ra vào năm 1821, một số công ty vàng nhỏ lẻ tại Canada đã bắt đầu thảo luận để thống nhất và thành lập một công ty mới. 

Công ty vàng Kinross được thành lập vào năm 1993 sau sự hợp nhất của công ty Plexus Resources, công ty CMP Resources và một công ty với tên gọi toàn số là 1021105 Ontario Corp. Vì vậy, Kinross sở hữu cổ phần và tiền bản quyền trong một số hoạt động khai thác vàng tại Fallon, Nevada và mỏ QR ở British Columbia.

công ty vàng Kinross trong giai đoạn mới thành lập

 

Ban quản lý chủ chốt của công ty vàng Kinross đến từ Dundee và Plexus, và tất cả đều đã có nhiều kinh nghiệm trong ngành khai thác vàng. Trong đó, Robert Buchan, Brian Penny và GA (Gord) McCreary đến từ Dundee; Art Ditto đến từ Plexus. Buchan trở thành chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc điều hành của công ty vàng Kinross; Ditto là Chủ tịch và COO; Penny là Giám đốc tài chính; và McCreary là phó chủ tịch. 

Vào năm 1993, nhờ 24% cổ phần từ mỏ Denton-Rawhide của Nevada (trước đây thuộc sở hữu của Plexus) cũng như các mỏ vàng sau cuộc đàm phán với Nerco, công ty vàng Kinross đã chính thức gia nhập cộng đồng khai thác và chế biến vàng vào thời điểm giá vàng tăng mạnh. Sau đó, nhờ vào 56% cổ phần tại công ty Falconbridge Gold, Kinross đã hoạt động khai thác đáng kể ở Zimbabwe (mỏ Golden Kopje và Blanket). Đến cuối năm 1993, công ty vàng Kinross đã chính thức sở hữu toàn bộ cổ phần trong hoạt động khai thác tại Zimbabwe.

Thành công mua lại Falconbridge, Kinross có được mỏ Hoyle Pond, ở Timmins, Ontario. Đây là một trong ba thương vụ mua lại hàng đầu của công ty vàng Kinross. 

Đến cuối năm 1993, hoạt động khai thác vàng tại mỏ Hoyle Pond đã sản xuất được 60.000 ounce vàng (tương đương với doanh thu 26,3 triệu đô la Mỹ), chiếm phần lớn trong tổng sản lượng 67.702 ounce vàng của công ty vàng Kinross. Và công ty Kinross cũng bán được 1,3 triệu ounce bạc (5,9 triệu đô la Mỹ) từ hoạt động khai thác này. Tổng doanh thu từ mỏ Hoyle Pond đạt 32,2 triệu đô la trong năm đầu tiên kinh doanh. 

Ngay từ những ngày đầu tiên, công ty vàng Kinross đã áp dụng một kế hoạch kinh doanh đúng đắn: năng suất cao, chi phí thấp và áp dụng chương trình đầu tư phòng ngừa rủi ro.

công ty vàng Kinross trong giai đoạn sáng lập

 

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn đầu (1994 – 1996)

Năm 1994, công ty vàng Kinross đẩy mạnh khai thác, sản xuất tại mỏ Hoyle Pond. Nhờ đó, sản lượng và doanh thu hàng năm tăng vọt lên 92,1 triệu đô la, với sản lượng cả vàng và bạc đều tăng đáng kể (174.165 ounce vàng với giá 66,9 triệu đô la và 5,2 triệu ounce bạc với giá 25,2 triệu đô la). Doanh thu tăng vọt gần 186% so với năm thứ đầu tiên. Công ty vàng Kinross trở thành nhà sản xuất quy mô trung bình hoặc ‘hạng hai’. 

Ban lãnh đạo Kinross đã nhận ra tầm quan trọng của quy mô sản xuất khi đối đầu với công ty vàng Barrick Gold trong ngành để mua lại Lac Minerals và một công ty khác có quy mô tương tự tại Toronto. Cả việc sáp nhập và tiếp quản của công ty vàng Kinross đều thất bại vì không thể đánh bại được quy mô, danh tiếng và nguồn tiền có sẵn của Barrick Gold tại Toronto.

Năm 1995, công ty vàng Kinross thực hiện mua mỏ Macassa ở Hồ Kirkland, Ontario và tăng quyền sở hữu đối với mỏ Denton-Rawhide (49%): mỏ Aginskoe (25%) ở Kamchatka, Nga; mỏ Goldbanks ở Nevada. Đến cuối năm, Kinross có 8 mỏ sản xuất vàng (3 mỏ ở Canada, 3 mỏ ở Hoa Kỳ, và 2 mỏ ở Zimbabwe) và 3 mỏ sản xuất bạc (tất cả ở Hoa Kỳ). Doanh thu cuối năm của công ty vàng Kinross tăng 133,3 triệu đô la, gần 45% so với cùng kỳ năm trước.

Năm 1996, sản lượng vàng sản xuất tại mỏ Zimbabwe và Golden Kopje của Kinross tăng cao (đạt 450.000 ounce). Công ty vàng Kinross kết thúc năm 1995 với doanh thu tăng 54% (gần 208,5 triệu đô la).

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn còn non trẻ (1994 - 1996)

 

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn phục hồi (1997-1999)

Công ty vàng Kinross và các nhà sản xuất vàng khác trong ngành đã bị thô lỗ vào năm 1997 khi giá vàng giảm xuống còn 295 đô la Mỹ/ounce. Hầu hết các công ty vàng đều bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi lớn của thị trường cho dù có áp dụng chương trình đầu tư phòng ngừa rủi ro. 

Trong khi công ty vàng Kinross bị lỗ lần đầu tiên, doanh thu của Barrick Gold giảm từ 15,4 tỷ đô la Mỹ xuống 8,6 tỷ đô la Mỹ. Mặc dù trong năm 1997, Kinross tạo ra doanh thu 183,5 triệu đô la, nhưng vẫn lỗ 83,7 triệu đô la. Khoản lỗ của công ty đến từ hoạt động khai thác ở một số mỏ như: Kopje, QR, DeLamar và Macassa và đến từ hoạt động đầu tư vào dự án Goldbank. Tuy nhiên sau đó không lâu, công ty vàng Kinross đã có sự khởi sắc đáng kể về doanh thu.

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn phục hồi

 

Vào tháng 4 năm 1998, công ty vàng Kinross mua lại khu vực Eastern Goldfields, bao gồm 533km² đất ở Tây Úc. Sau thỏa thuận này, Kinross đã hợp tác với Denver, Amax Gold có trụ sở tại Colorado. 

Amax Gold là một công ty khai thác quy mô trung bình đang phát triển giống như Kinross. Amax Gold đã mang lại 3 hoạt động khai thác lớn (Fort Knox của Alaska, một nửa cổ phần trong mỏ Kubaka ở Nga, và một nửa cổ phần khác trong mỏ Refugio của Chile) cũng như các mỏ vàng nhỏ hơn trong khi Kinross đưa ra sự ổn định của vốn lưu động và tiền mặt. Việc sáp nhập đã mang lại cho công ty vàng Kinross tổng lượng dự trữ vàng là 27 triệu ounce và tăng sản lượng vàng hàng năm lên 1,1 triệu ounce.

Công ty vàng Kinross đạt được mục tiêu doanh thu của năm bằng cách giảm chi phí sản xuất xuống dưới 200 đô la mỗi ounce và chỉ tăng trở lại vào cuối năm 1999. Khí hậu khắc nghiệt bất thường ở Alaska cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất của mỏ Fort Knox. Công ty vàng Kinross cũng mua lại các mỏ lân cận của công ty Royal Oak Mines ở Timmins, Ontario và nâng quyền sở hữu của mình đối với Mỏ Kubaka từ 50% lên 54,7%.

Sau đó, giá vàng lại lao dốc với mức giá thấp nhất trong hai thập kỷ của ngành này. Công ty vàng Kinross đã bị đánh bại trên các sàn giao dịch chứng khoán nhưng vẫn được các nhà phân tích xếp hạng cao. 

Đầu năm 1999, công ty vàng Kinross mua lại La Teko Resources, sau đó tiếp tục mua lại cổ phần của công ty vàng Newmont Goldcorp trong hoạt động khai thác tại True North ở Alaska. Kinross kết thúc năm 1999 với doanh thu 318 triệu đô la, tăng gần 15% so với năm 1998, mặc dù bị thua lỗ 231,2 triệu đô la trong năm.

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong giai đoạn phục hồi sau sự suy thoái của thị trường (1997-1999)

 

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong thiên niên kỷ mới (từ năm 2000 cho đến nay)

Trong quý đầu tiên của năm 2000, công ty vàng Kinross mua 33% cổ phần trong Dayton Mining và sau đó thông báo rằng thu nhập hàng quý một lần nữa lại bị lỗ. Chi phí sản xuất cao hơn trong khi năng suất khai thác giảm tại các mỏ Kubaka, Refugio, Denton-Rawhide và mỏ Macassa đã ngừng hoạt động. 

Tuy nhiên, doanh thu bị giảm chỉ là tạm thời và bảng cân đối kế toán của công ty vẫn ổn định. Với bất kỳ sự tăng giá nào của giá vàng, Kinross sẵn sàng thu được lợi nhuận. Ngoài ra, hoạt động thăm dò và phát triển đang diễn ra tại các khu khai thác của công ty này dự kiến ​​sẽ mang lại mức sản lượng hàng năm lên đến hai triệu ounce trong tương lai gần.

Quá trình phát triển của công ty vàng Kinross trong thiên niên kỷ mới (từ năm 2000 cho đến nay)

 

Đối thủ trong ngành của công ty vàng Kinross

Trải qua một thời gian dài để đạt được mức quy mô khai thác và kinh doanh như hiện nay, các đối thủ chính của công ty vàng Kinross cũng không thật sự quá nhiều, có thể kể đến là: Lonmin, Phelps Dodge, Companhia Vale do Rio Doce; Barrick Gold; Newmont Goldcorp; Placer Dome …

Đối thủ trong ngành của công ty vàng Kinross

 

Comments are closed.